Làm cùng lúc 2 công ty thì công ty thứ 2 có phải trả thêm tiền bảo hiểm không? Là câu hỏi mà rất nhiều kế toán và người lao động làm việc song song ở hai nơi thắc mắc, bởi luật chỉ cho phép người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc tại một doanh nghiệp duy nhất. Vậy nghĩa vụ của công ty thứ hai với khoản tiền bảo hiểm là gì, mức trả bao nhiêu và có ngoại lệ nào không? Bài viết hệ thống đầy đủ căn cứ pháp lý theo Bộ luật Lao động 2019, Luật Bảo hiểm xã hội 2024 và Luật Việc làm 2025 để kế toán doanh nghiệp xử lý đúng ngay từ đầu, tránh rủi ro truy thu hoặc khiếu nại từ người lao động.
Vì sao câu hỏi công ty thứ 2 có phải trả thêm tiền bảo hiểm luôn gây tranh cãi?
Khi một người lao động ký hợp đồng lao động cùng lúc với hai doanh nghiệp, vướng mắc lớn nhất không nằm ở việc “có được làm hai nơi hay không”, điều này pháp luật lao động không cấm, mà nằm ở cách xử lý nghĩa vụ bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT) và bảo hiểm thất nghiệp (BHTN).
Vì mỗi người lao động chỉ được tham gia BHXH bắt buộc theo một quan hệ lao động, công ty thứ 2 không đóng BHXH cho người này, dẫn tới câu hỏi trực tiếp: công ty thứ 2 có phải trả thêm tiền bảo hiểm cho người lao động hay không, hay được miễn hoàn toàn nghĩa vụ tài chính liên quan đến bảo hiểm?
Sai ở khâu này, doanh nghiệp đối diện hai rủi ro song song:
- Nếu bỏ sót nghĩa vụ trả thêm tiền, người lao động có căn cứ khiếu nại và công ty bị truy đòi khoản chênh lệch;
- Nếu hiểu sai và đóng trùng BHXH bắt buộc ở cả hai nơi, doanh nghiệp phải làm thủ tục hoàn trả, mất thời gian đối chiếu với cơ quan BHXH.
Nắm chắc quy định là cách duy nhất để kế toán tránh cả hai tình huống này.
Nguyên tắc đóng BHXH bắt buộc khi giao kết hợp đồng với nhiều công ty
Trước khi trả lời công ty thứ 2 có phải trả thêm tiền bảo hiểm không, cần xác định rõ người lao động đóng BHXH bắt buộc ở đâu khi làm hai nơi.
Khoản 5 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 quy định:
Người đồng thời thuộc nhiều đối tượng tham gia BHXH bắt buộc theo hợp đồng lao động thì tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo hợp đồng lao động giao kết đầu tiên. Trường hợp hợp đồng đang dùng làm căn cứ đóng BHXH bị tạm hoãn thực hiện mà hai bên không thỏa thuận về việc đóng BHXH trong thời gian tạm hoãn, thì việc tham gia BHXH bắt buộc chuyển sang xác định theo thứ tự thời gian có hiệu lực của các hợp đồng đã ký.
Nói ngắn gọn: Hợp đồng ký trước, công ty đó đóng BHXH bắt buộc; công ty ký sau không phát sinh nghĩa vụ đóng BHXH, BHYT và BHTN bắt buộc cho người lao động này. Đây chính là tiền đề để phát sinh nghĩa vụ trả thêm tiền mà bài viết phân tích ở phần tiếp theo.
Công ty thứ 2 có phải trả thêm tiền bảo hiểm không?

Câu trả lời là CÓ. Khoản 3 Điều 168 Bộ luật Lao động 2019 quy định rõ:
Đối với người lao động không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc, BHYT, BHTN, người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả thêm cùng lúc với kỳ trả lương một khoản tiền cho người lao động, tương đương với mức người sử dụng lao động đóng BHXH bắt buộc, BHYT, BHTN cho người lao động theo quy định.
Áp vào tình huống làm hai công ty: Vì người lao động đã tham gia BHXH bắt buộc tại công ty ký hợp đồng đầu tiên, nên tại công ty thứ 2, người này không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc, BHYT, BHTN trong quan hệ lao động đó. Điều đó kích hoạt trách nhiệm của công ty thứ 2 theo Điều 168: không đóng bảo hiểm bắt buộc thay cho người lao động, nhưng phải trả thêm một khoản tiền tương đương phần đáng lẽ doanh nghiệp phải đóng. Nói cách khác, công ty thứ 2 có phải trả thêm tiền bảo hiểm là nghĩa vụ đương nhiên phát sinh, không phải một lựa chọn của doanh nghiệp.
Mức tiền công ty thứ 2 phải trả thêm được tính thế nào?
Khoản tiền trả thêm được xác định tương đương với mức người sử dụng lao động đóng BHXH bắt buộc, BHYT, BHTN cho người lao động theo quy định hiện hành. Theo mức đóng hiện hành, tổng tỷ lệ phần doanh nghiệp đóng cho ba loại bảo hiểm này tương đương 21.5% tiền lương làm căn cứ đóng BHXH.
Ba điểm kế toán cần lưu ý khi hạch toán khoản trả thêm:
- Trả cùng kỳ lương, không gộp vào lương cơ bản: Điều 168 nêu rõ khoản tiền này được chi trả “cùng lúc với kỳ trả lương”, nên thể hiện thành mục riêng trên bảng lương, không trộn lẫn để tránh tranh chấp căn cứ tính thuế thu nhập cá nhân hoặc các khoản khác sau này.
- Căn cứ tính là tiền lương làm căn cứ đóng BHXH tại chính công ty thứ 2: Tiền lương ghi trong hợp đồng lao động ký với công ty thứ 2, không phải mức lương tại công ty đầu tiên.
- Riêng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp không nằm trong khoản trả thêm này mà xử lý theo cơ chế riêng.
Bảo hiểm thất nghiệp khi làm 2 công ty xử lý ra sao?

Điều 31 Luật Việc làm 2025 quy định đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp gồm người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc xác định thời hạn từ đủ 01 tháng trở lên, cùng một số nhóm đối tượng khác.
Luật cũng nêu rõ: Trường hợp người lao động đồng thời thuộc nhiều đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp, việc tham gia được thực hiện cùng với việc tham gia BHXH bắt buộc.
Vì BHXH bắt buộc chỉ đóng theo hợp đồng ký đầu tiên, bảo hiểm thất nghiệp cũng chỉ đóng tại công ty đó. Công ty thứ 2 không đóng BHTN cho người lao động, và khoản tương đương phần đóng BHTN đã được gộp vào tỷ lệ 21.5% trả thêm theo Điều 168 đã nêu, doanh nghiệp không phải trả tách riêng thêm một lần nữa.
Bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp: Ngoại lệ công ty thứ 2 vẫn phải đóng

Đây là điểm dễ nhầm lẫn nhất khi xác định công ty thứ 2 có phải trả thêm tiền bảo hiểm hay đóng bảo hiểm trực tiếp. Điều 43 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 (được sửa đổi bởi điểm b khoản 1 Điều 139 Luật Bảo hiểm xã hội 2024) quy định:
Trường hợp người lao động giao kết hợp đồng lao động với nhiều người sử dụng lao động, thì người sử dụng lao động phải đóng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo từng hợp đồng lao động đã giao kết, nếu người lao động thuộc đối tượng phải tham gia BHXH bắt buộc.
Nghĩa là riêng khoản bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp không áp dụng nguyên tắc “chỉ đóng theo hợp đồng đầu tiên” và cũng không nằm trong khoản tiền trả thêm cho người lao động. Công ty thứ 2 vẫn phải trực tiếp đóng khoản này vào quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo hợp đồng lao động đã ký với mình.
Khi xảy ra tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, người lao động được giải quyết chế độ theo nguyên tắc đóng – hưởng do Chính phủ quy định.
Đây là lý do kế toán phụ trách công ty thứ 2 cần tách bạch rõ hai luồng xử lý:
- Trả thêm tiền tương đương 21.5% cho phần BHXH, BHYT và BHTN;
- Đóng trực tiếp vào quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, không quy thành tiền trả cho người lao động.
Ví dụ minh họa: Công ty thứ 2 có phải trả thêm tiền bảo hiểm và tính bao nhiêu
Anh Minh ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn với Công ty X từ tháng 1/2025 (công ty đầu tiên, đang đóng BHXH bắt buộc cho anh Minh với mức lương 15 triệu đồng/tháng). Từ tháng 6/2026, anh Minh ký thêm hợp đồng lao động xác định thời hạn 12 tháng với Công ty Y (công ty thứ 2), mức lương thỏa thuận làm căn cứ tính là 10 triệu đồng/tháng.
Vì hợp đồng với Công ty X ký trước, anh Minh tiếp tục đóng BHXH, BHYT, BHTN bắt buộc tại Công ty X. Tại Công ty Y, anh Minh không thuộc đối tượng đóng BHXH bắt buộc, nên Công ty Y áp dụng khoản 3 Điều 168 Bộ luật Lao động 2019:
- Khoản trả thêm mỗi tháng = 10.000.000 đồng × 21,5% = 2.150.000 đồng, chi trả cùng kỳ lương hằng tháng.
- Riêng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, Công ty Y vẫn đóng trực tiếp vào quỹ theo hợp đồng đã ký với anh Minh, không cộng vào khoản 2.150.000 đồng nói trên.
Nếu Công ty Y hiểu sai và cho rằng “đã có công ty khác đóng BHXH rồi nên không còn nghĩa vụ gì”, doanh nghiệp bỏ sót khoản trả thêm 2.150.000 đồng/tháng và khoản đóng bảo hiểm tai nạn lao động, đây chính là hai lỗi phổ biến nhất khi xử lý tiền lương cho lao động làm việc tại nhiều nơi.
Với các trường hợp lao động nước ngoài làm việc song song nhiều đơn vị tại Việt Nam, cách xác định tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm còn có thêm những lưu ý riêng mà kế toán nên tham khảo trong bài tiền lương đóng BHXH đối với lao động nước ngoài để đối chiếu đầy đủ.
Sai lầm thường gặp khi xử lý tiền bảo hiểm tại công ty thứ 2
Một, nhầm rằng công ty thứ 2 hoàn toàn không có nghĩa vụ gì về bảo hiểm. Đây là lỗi phổ biến nhất khiến doanh nghiệp bỏ sót khoản trả thêm 21.5% theo Điều 168, dẫn tới rủi ro bị người lao động khiếu nại truy đòi.
Hai, gộp nhầm bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp vào khoản tiền trả thêm. Như đã phân tích, đây là khoản công ty thứ 2 phải đóng trực tiếp vào quỹ theo từng hợp đồng, không phải khoản chi trả bằng tiền mặt cho người lao động.
Ba, xác định sai hợp đồng nào là “hợp đồng đầu tiên”. Khi hợp đồng đang dùng làm căn cứ đóng BHXH bị tạm hoãn mà không có thỏa thuận đóng tiếp, doanh nghiệp cần đối chiếu lại thứ tự hiệu lực của các hợp đồng đã ký để xác định đúng nơi đóng BHXH bắt buộc, tránh đóng trùng hoặc bỏ sót.
Bốn, không cập nhật quy định mới khi chính sách BHXH thay đổi. Luật Bảo hiểm xã hội 2024 và Luật Việc làm 2025 mang theo một số điều chỉnh so với giai đoạn trước, doanh nghiệp nên rà soát định kỳ để tránh áp dụng văn bản đã hết hiệu lực.
Năm, nhầm lẫn giữa người không thuộc diện đóng BHXH do làm việc tại nhiều nơi với người không thuộc diện đóng BHXH theo bản chất hợp đồng (thử việc, hợp đồng dưới 1 tháng…). Hai nhóm này có căn cứ pháp lý khác nhau tuy đều dẫn tới việc doanh nghiệp phải trả thêm tiền theo Điều 168; kế toán nên phân biệt rõ trong hồ sơ, tham khảo thêm tại bài người lao động không thuộc diện đóng BHXH và BHYT.
Kết luận
Làm cùng lúc 2 công ty thì công ty thứ 2 có phải trả thêm tiền bảo hiểm không? Câu trả lời rõ ràng là CÓ, căn cứ khoản 3 Điều 168 Bộ luật Lao động 2019, với mức tương đương 21.5% tiền lương làm căn cứ đóng BHXH, chi trả cùng kỳ lương.
Điều này áp dụng vì theo khoản 5 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 và Điều 31 Luật Việc làm 2025, người lao động chỉ đóng BHXH bắt buộc, BHYT, BHTN theo hợp đồng lao động ký đầu tiên. Riêng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp là ngoại lệ thì công ty thứ 2 vẫn phải đóng trực tiếp theo Điều 43 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 (sửa đổi bởi Luật Bảo hiểm xã hội 2024), không quy đổi thành tiền trả cho người lao động.
Việc tách bạch đúng hai luồng nghĩa vụ này giúp doanh nghiệp vừa tuân thủ pháp luật, vừa tránh phát sinh tranh chấp lương – bảo hiểm với người lao động làm việc song song nhiều nơi.
Nếu doanh nghiệp của anh/chị đang có lao động làm việc cùng lúc tại nhiều công ty và chưa chắc chắn về cách tính, hạch toán hay hồ sơ lưu trữ, đội ngũ dịch vụ kế toán trọn gói của MAN – Master Accountant Network sẵn sàng rà soát và xử lý cùng anh/chị để đảm bảo tuân thủ đúng quy định hiện hành.
Liên hệ MAN – Master Accountant Network để được hỗ trợ và tư vấn chuyên sâu!
Thông tin liên hệ MAN – Master Accountant Network
- Địa chỉ: Số 19A, Đường 43, Phường Tân Thuận, TP. Hồ Chí Minh
- Mobile/Zalo: 0903 963 163 – 0903 428 622
- Email: man@man.net.vn
- Google Business Profile: Xem Google Business Profile của MAN – Master Accountant Network
- LinkedIn Founder: Xem hồ sơ LinkedIn của chuyên gia Lê Hoàng Tuyên
Phụ trách sản xuất và kiểm duyệt nội dung chuyên môn bởi: Ông Lê Hoàng Tuyên – Sáng lập viên (Founder) & CEO MAN – Master Accountant Network. Ông là Kiểm toán viên CPA Việt Nam với hơn 30 năm kinh nghiệm sâu sắc trong lĩnh vực Kế toán, Kiểm toán, Thuế và Tư vấn Pháp lý doanh nghiệp.
Giải đáp thắc mắc về vấn đề công ty thứ 2 có phải trả thêm tiền bảo hiểm
Công ty thứ 2 có phải trả thêm tiền bảo hiểm cho tất cả người lao động làm việc bán thời gian không?
Chỉ áp dụng với người lao động không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc, BHYT, BHTN tại công ty đó, bao gồm cả trường hợp đã tham gia BHXH bắt buộc tại công ty ký hợp đồng đầu tiên.
Mức tiền công ty thứ 2 phải trả thêm là bao nhiêu?
Tương đương mức người sử dụng lao động phải đóng BHXH bắt buộc, BHYT, BHTN, theo mức đóng hiện hành khoảng 21.5% tiền lương làm căn cứ đóng BHXH, trả cùng kỳ lương.
Công ty thứ 2 có phải đóng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp không?
Có. Đây là khoản đóng trực tiếp theo từng hợp đồng lao động đã giao kết, không nằm trong khoản tiền trả thêm và không phụ thuộc việc người lao động đã đóng BHXH bắt buộc ở công ty khác.
Làm sao xác định công ty nào là công ty đầu tiên để đóng BHXH bắt buộc?
Căn cứ theo thứ tự thời gian giao kết hợp đồng lao động; nếu hợp đồng đang dùng làm căn cứ đóng BHXH bị tạm hoãn mà không có thỏa thuận đóng tiếp, việc tham gia BHXH bắt buộc được xác định lại theo thứ tự hiệu lực của các hợp đồng đã ký.
Nếu công ty thứ 2 không trả khoản tiền bảo hiểm này, người lao động có quyền khiếu nại không
Có. Đây là nghĩa vụ pháp lý theo Điều 168 Bộ luật Lao động 2019, không phải khoản tự nguyện; người lao động có quyền yêu cầu chi trả và khiếu nại nếu doanh nghiệp bỏ sót.








